Ngôn ngữ :

Quay lại

Xốp Định Hình

Xốp Khối

Xốp Đóng Gói

Lõi Xốp EPS Cho Tấm Panel

Tấm xốp EPS cho kho lạnh: chọn độ dày theo nhiệt độ phòng

21 Tháng 09, 2026

Hỏi một xưởng panel hay nhà thầu lắp kho lạnh xem họ chọn độ dày tấm xốp EPS bằng cách nào, câu trả lời phổ biến nhất vẫn là "kho lạnh thì dùng 10 cm". Đó là thói quen, không phải tính toán. Một phòng mát ở +8 độ C và một kho bảo quản đông ở âm 22 độ C trong cùng nhà xưởng chịu hai điều kiện khác hẳn nhau. Dùng chung một quy cách thì một trong hai chắc chắn sai: hoặc trả tiền thừa cho phòng mát, hoặc thiếu cách nhiệt cho kho đông rồi trả dần bằng hóa đơn điện.

Bài này dành cho người duyệt quy cách: nhiệt độ phòng dẫn dắt độ dày ra sao, vì sao cầu nhiệt tại mạch ghép và điểm bắt vít xóa sạch con số vừa tính, vì sao phòng lạnh nhất quyết định quy cách cả dãy. Mốp Xốp Minh Phát cung cấp tấm xốp và lõi xốp EPS cho xưởng panel và đơn vị lắp đặt; chúng tôi không phải đơn vị thi công kho lạnh.

Nhiệt độ phòng quyết định độ dày, diện tích chỉ quyết định số lượng

Dòng nhiệt qua vách tỷ lệ thuận với chênh lệch nhiệt độ hai mặt và tỷ lệ nghịch với độ dày lớp cách nhiệt. Trong nhà xưởng miền Nam, không khí ban trưa thường quanh 33 đến 36 độ C, dưới mái tôn còn cao hơn. Phòng mát giữ +5 độ C đối mặt chênh lệch khoảng 30 độ; kho bảo quản đông âm 22 độ C đối mặt chênh lệch gần gấp đôi. Cùng một độ dày, kho đông chịu dòng nhiệt lớn hơn hẳn: máy nén chạy dài hơn, tuyết bám dày hơn. Vì vậy độ dày tăng theo mức lạnh, không tăng theo diện tích sàn; diện tích chỉ quyết định cần bao nhiêu mét vuông tấm.

Hệ số dẫn nhiệt của EPS khoảng 0,033 đến 0,038 W/mK ở nhiệt độ trung bình 10 độ C, giảm dần khi tỷ trọng tăng, gần như cố định với một loại hạt, nên đòn bẩy duy nhất của người mua là độ dày.

Yếu tố thứ hai ít người để ý là điểm đọng sương trên mặt ấm. Vách càng mỏng thì mặt ngoài càng lạnh; khi bề mặt xuống dưới điểm đọng sương của không khí trong xưởng, nước ngưng tụ thành vệt, tôn gỉ và nền trơn; với khí hậu ẩm như Bình Dương, lỗi này đến rất sớm. Nếu phân vân giữa các mốc quen thuộc, xem chọn độ dày tấm xốp EPS 1cm, 3cm, 5cm hay 10cmcách chọn tỷ trọng xốp EPS theo nhu cầu.

Mua lõi xốp hay mua panel thành phẩm? Bài này nói về tấm xốp EPS — phần lõi mà nhà máy sản xuất. Nếu vách kho lạnh của bạn dùng tấm panel đã cán tôn sẵn thay vì lõi xốp rời, thì bài tấm panel EPS cho kho lạnh và nhà xưởng mới là bài đúng; phần panel thành phẩm do xưởng cán panel thực hiện, nhà máy chỉ cung cấp lõi xốp cho họ.

Bảng định hướng: loại phòng, dải nhiệt độ và hướng chọn độ dày

Bảng dưới đây để đối chiếu nhanh khi duyệt hồ sơ, không phải kết quả tính nhiệt; con số cuối cùng thuộc về đơn vị thiết kế lạnh.

Loại phòng Dải nhiệt độ Hướng chọn độ dày Lỗi thường gặp
Phòng đệm, hành lang lạnh +12 đến +18 độ C Mỏng nhất công trình, nhưng phải kín và liên tục Bị bỏ qua, thành đường dẫn nhiệt vào kho chính
Kho mát rau củ, hoa tươi +8 đến +12 độ C Mức cơ bản; trần dày hơn vách vì hứng bức xạ mái Dùng chung một độ dày cho vách và trần cho tiện
Kho lạnh thực phẩm, kho dược +2 đến +8 độ C Dày hơn kho mát một bậc; siết mạch ghép trước Chọn theo giá tấm, tiết kiệm bao nhiêu trả lại bằng tiền điện
Kho bảo quản đông Âm 18 đến âm 25 độ C Dày gấp đôi nhóm kho mát; nên ghép hai lớp so le Giữ nguyên quy cách kho mát cho cả kho đông
Kho cấp đông nhanh Âm 30 độ C trở xuống Dày nhất công trình, lớp kép gần như bắt buộc Tính như kho bảo quản đông
Sàn kho đông Theo phòng phía trên Lớp cách nhiệt liên tục dưới nền, tỷ trọng theo tải Dùng tấm của vách cho sàn, nền lún cục bộ

Cầu nhiệt: nơi con số vừa tính bị đánh mất

Mọi phép tính độ dày đều giả định lớp cách nhiệt là một tấm liền, không thủng. Kho lạnh thật thì ngược lại: hàng trăm tấm ghép lại, hàng nghìn điểm bắt vít, góc, chân vách, khung cửa và ống xuyên. Nhiệt đi qua chỗ yếu nhất, không phải chỗ dày nhất.

Vị trí Chuyện gì xảy ra Dấu hiệu nhận ra Cách xử lý
Mạch ghép trùng nhau giữa hai lớp Nhiệt đi tắt theo khe thẳng suốt chiều dày vách Vệt đọng sương hoặc băng bám thành đường thẳng Ghép so le, chồng mí, không để khe thông suốt
Vít bắt xuyên suốt vách Kim loại dẫn nhiệt tốt hơn xốp, mỗi con vít là một lỗ rò Đầu vít ướt, gỉ sớm, quầng ẩm quanh đầu vít Giữ đúng mật độ vít theo thiết kế, tránh xuyên suốt
Góc vách và vách giáp trần Tổn thất hình học cộng mạch cắt khó khít Băng tuyết đóng ở góc, giữa vách vẫn khô Cắt theo dưỡng, chèn kín mạch, kiểm tra trước khi phủ
Chân vách giáp nền Cầu nhiệt truyền xuống bê tông, lan ra ngoài kho Nền nứt chân chim, nền quanh kho đông bị phồng Lớp cách nhiệt sàn liên tục, nối đúng với lớp vách
Khung cửa, ống lạnh, dây điện xuyên vách Lỗ hở lớn nhất và bị làm ẩu nhiều nhất Sương bám quanh khung, cửa khó đóng do đóng băng Gioăng đúng loại, chèn kín, nghiệm thu riêng

Bản vẽ chỉ ghi độ dày mà không ghi cách xử lý mạch ghép và chân vách thì con số đó chỉ để trang trí: thêm vài centimet xốp không bù được một hàng vít xuyên suốt.

Ghép so le, chồng mí và dung sai của tấm xốp

Với phòng lạnh sâu, ghép hai lớp mỏng so le mạch thường tốt hơn một lớp dày tương đương. Lý do là hình học: mạch lớp trong lệch khỏi mạch lớp ngoài thì không còn khe nào xuyên suốt từ mặt ấm sang mặt lạnh, nhiệt buộc phải đi vòng qua vật liệu.

Điều kiện để cách ghép này có ý nghĩa là tấm phải đều. Độ dày dao động giữa các tấm cùng lô làm lớp thứ nhất gợn sóng, lớp thứ hai không áp khít. Cạnh xiên do cắt lệch tạo mạch hình nêm, nhìn ngoài thì kín mà bên trong rỗng. Đơn hàng kho lạnh vì vậy cần ghi rõ độ dày danh nghĩa, dung sai và kích thước tấm cắt theo nhịp vách.

Mạch còn lại rộng quá vài milimet phải được chèn bằng vật liệu cách nhiệt: một khe nhỏ chạy hết chiều cao vách vẫn là đường dẫn nhiệt dài hàng mét. Với đơn kho đông dùng lớp dày, nhà máy thường xuất theo mốc quen thuộc như tấm xốp EPS dày 10cm rồi ghép chồng lớp theo thiết kế.

Hơi ẩm: trong kho lạnh, hơi nước đi ngược chiều so với nhà ở

Hơi nước đi từ nơi có áp suất hơi cao sang nơi có áp suất hơi thấp — không phải cứ đi từ nóng sang lạnh. Hai vế thường trùng nhau nên nhiều người nhớ nhầm thành một quy luật về nhiệt độ, rồi đặt sai lớp chắn hơi ở những công trình mà chúng không trùng. Lớp chắn hơi đặt ở phía có áp suất hơi cao hơn — thường là phía nóng ẩm, riêng công trình chủ động tạo ẩm như nhà yến thì phía đó lại là bên trong. Với kho lạnh giữa mùa nóng ở Bình Dương, ngoài trời vừa nóng vừa ẩm nên áp suất hơi bên ngoài cao hơn hẳn, hướng đi là từ ngoài vào trong, và lớp chắn hơi nằm ở mặt ngoài của vách — ngược với thói quen làm trần nhà dân dụng. Cùng một quy luật đó cho ra hai đáp án khác nhau ở vách và trần nhà yến, nơi chính bên trong mới là phía ẩm.

Nếu lớp chắn hơi đặt sai phía hoặc thủng tại mạch ghép, hơi nước vào lòng vách rồi ngưng tụ tại chỗ. Ở kho mát, vách ẩm và hiệu quả cách nhiệt tụt dần. Ở kho đông thì nặng hơn: hơi nước khuếch tán vào mạch ghép rồi đóng băng tại chỗ và tích lũy dần qua nhiều tháng, băng nở ra đẩy các tấm tách nhau. Đây là quá trình chậm và gần như một chiều, nên tới lúc nhìn thấy thì lớp chắn hơi đã hỏng từ lâu.

Tấm xốp EPS hút nước rất thấp nhưng không phải bằng không, và không thay thế được lớp chắn hơi: xốp cản nhiệt, lớp chắn hơi và việc dán kín mạch cản ẩm. Khi cần đối chiếu vật liệu, xem so sánh xốp EPS, XPS, PU foam và bông thủy tinh.

Phòng lạnh nhất quyết định quy cách của cả dãy

Trong cụm kho nhiều phòng, sai lầm hay gặp là lấy mức trung bình: ba phòng mát và một kho đông gom về một quy cách chung cho gọn. Kết quả là phòng mát dư cách nhiệt, kho đông thiếu, cả hệ thống lạnh chạy theo phòng yếu nhất.

Nguyên tắc nên giữ: quy cách đi theo từng phòng, chuẩn hóa chỉ áp dụng cho chủng loại vật tư. Vách ngăn giữa kho đông và phòng mát bên cạnh tính theo chênh lệch giữa hai phòng đó, không theo nhiệt độ ngoài trời. Trần dưới mái tôn nhận nhiệt nặng nhất nên thường dày hơn vách.

Cách gọn mà vẫn đúng cho bên mua hàng là giữ cùng loại hạt và cùng dải tỷ trọng cho toàn công trình, chỉ thay đổi độ dày theo từng phòng và ghi rõ trên đơn.

PCCC: tấm xốp phải được che phủ, chậm cháy không phải là không cháy

Nói thẳng: xốp EPS là vật liệu cháy được. Loại có phụ gia chậm cháy khó bắt lửa hơn và tự tắt nhanh hơn khi rút nguồn nhiệt, nhưng chậm cháy không đồng nghĩa với không cháy. Trong kho lạnh, lớp xốp chạy liên tục quanh một không gian kín nên điều này càng quan trọng.

Hai yêu cầu bắt buộc. Thứ nhất, tấm xốp không được để trần: mặt tiếp xúc phải được che phủ bằng tôn, vữa, thạch cao hoặc bê tông theo hồ sơ thiết kế đã duyệt. Thứ hai, giai đoạn nguy hiểm nhất là lúc thi công, khi thợ hàn cắt kim loại ngay cạnh các tấm chưa che phủ. Toàn bộ hạng mục phải tuân thủ quy định phòng cháy chữa cháy hiện hành. Nhà máy cấp được loại hạt chậm cháy khi khách ghi rõ trên đơn; chi tiết trong bài tiêu chuẩn PCCC và an toàn cháy cho xốp EPS.

Mốp Xốp Minh Phát cung cấp gì trong chuỗi này

Nói rõ ranh giới. Nhà máy tại Bàu Bàng, Bình Dương sản xuất tấm xốp EPS, xốp khối, xốp định hình đúc khuôn và lõi xốp EPS cho xưởng panel. Chúng tôi không cán tôn, không bán tấm panel hoàn thiện và không nhận thi công kho lạnh; việc của nhà máy là cấp đúng tấm, đúng độ dày, đúng tiến độ.

Nền tảng của việc đó là hơn 30 năm trong nghề xốp EPS, công ty thành lập năm 2007, với hệ thống quản lý chất lượng xây dựng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015. Hàng của nhà máy đã đi theo tiêu chuẩn của khách hàng xuất khẩu Nhật Bản, nên yêu cầu đồng đều giữa các lô không lạ với tổ sản xuất.

Để nhận báo giá đúng ngay lần đầu, gửi kèm các thông tin sau:

  • Nhiệt độ vận hành từng phòng, kể cả phòng đệm.
  • Độ dày và dung sai, nêu rõ có ghép lớp hay không.
  • Tỷ trọng mong muốn hoặc tải trọng lên tấm; phần sàn tách riêng.
  • Kích thước tấm theo nhịp vách.
  • Số lượng, địa điểm giao và ngày cần hàng.
  • Có yêu cầu hạt chậm cháy hay không.

Gửi yêu cầu về địa chỉ thư điện tử blueskyhuynhhuynh@gmail.com kèm bản vẽ mặt bằng nếu có. Với đơn kho lạnh, xưởng xác nhận lại độ dày và quy cách cắt trước khi vào sản xuất, vì sửa một lô cắt sai nhịp vách tốn kém hơn một cuộc trao đổi.

Các tin khác